Trang chủ Thông tin Y học cổ truyền
Y học cổ truyền

Thuyết ngũ hành

Như chúng ta đã biết, không tồn tại một toa thuốc chung cho tất cả các loại bệnh. Nhưng trên thực tế có lẽ nào như vậy không? Theo quan niệm phương đông, con người có thể sống khỏe mạnh trong suốt cuộc đời, nhưng để đạt được điều đó cần phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Chúng ta thử cùng tìm hiểu trong những quan niệm cổ xưa về sức khỏe và trong hệ thống triết học đuợc hình thành tại đông phương từ rất lâu trước cả khi xuất hiện cơ đốc giáo. Cứ cho rằng những khái niệm đó đã lạc hậu so với ngày nay, nhưng đó là khuôn mẫu cuộc sống của 1/4 nhân loại, hiện ra trước chúng ta không được sơ khai, hoàn thiện lắm. Nhưng chúng ta cứ thử tìm trong đó vẻ đẹp hài hòa, ẩn trong mỗi chúng ta, chúng ta có thể kéo dài tuổi thọ, tận hưởng cuộc sống một cách thật sự.

Cùng tìm hiểu một học thuyết thú vị của đông phương – thuyết ngũ hành. Các khái niệm này đều không được viết trong sách giáo khoa. Chúng ta cứ tạm giả thuyết rằng, tất cả các trạng thái trong ngũ hành đều được xếp đặt theo một quy tắc nhất định và có mối quan hệ tương tác với nhau, biểu thị một trạng thái năng lượng nhất định trong tự nhiên và trong cơ thể. Sự thay đổi tính chất khi chuyển từ trạng thái này sang phần tư kia diễn ra trong ngày, trong năm và trong cuộc sống. Những sự thay đổi này bắt nguồn từ mọi hiện tượng trong toàn vũ trụ. Để hiểu được những gì viết dưới đây, các bạn hãy xem bảng “Qui loại ngũ hành” và thấy mọi vật đều có vị trí của mình. Mộc – biểu tượng của sự khởi đầu, lớn lên, cũng có nghĩ là hướng đông, mùa xuân, buổi sáng, và đồng thời – gan, túi mật. Màu sắc – màu xanh. Điều đó có nghĩa là sự bắt đầu chuyển động, bắt đầu hoạt động, thiên nhiên được phủ bởi màu xanh. Sự tràn đầy năng lượng trong gan, túi mật. Khi ấy con người thường cảm thấy nóng giận, anh ta hét, đó là người nóng tính, dễ bị kích động. Hỏa (dương thịnh) - biểu tượng sự năng động tối đa của cuộc sống, - hướng nam, mùa hè, giữa trưa, và cũng là trái tim, ruột non.

Màu sắc – màu đỏ. Ở đây tất cả đều rõ, ngọn lửa – màu đỏ, sự tràn đầy sinh lực trong tim, người ta vui vẻ. Người ta trò chuyện không ngừng, lượng máu dư thừa dồn lên làm mặt ánh đỏ. Kim – biểu tượng của sụ suy tàn, hướng tây, buổi chiều, , cơ quan – phổi, ruột già. Màu sắc – màu trắng. Khi trời sang thu, hoàng hôn mặt trời lặn ở phía tây, tóc bạc (tuổi xế chiều). Những niềm hân hoan đặc biệt không còn nữa, sự buồn rầu khiến người ta khóc. Thổ - trung tâm và trục chu kỳ thay đổi của toàn vũ trụ, sự kết thúc mùa hè, cơ quan – tỳ, dạ dày. Màu sắc – màu vàng. Đó là trạng thái trung tâm. Phần này liên quan đến người có thừa mỡ dưới da, thích của ngọt, thường xuyên bất an, lo lắng. Không phải ngẫu nhiên, ở những người có vấn đề về dạ dày, thường mang sắc mặt xám. Thủy (âm thịnh) – biểu tượng của sự năng động tối thiểu, hướng bắc, nửa đêm, cơ quan – thận, tuyến bài tiết. Màu sắc – màu đen. Đêm tối, sự già cũ, những triệu chứng của sự chết chóc, sự hao mòn năng lượng của thận, và tất cả năng lượng nói chung. Không phải vô cớ các cụ già ngay cả màu hè vẫn mặc áo khoác. Bây giờ, chúng ta hãy xem mối liên quan giữa các trạng thái với nhau, và nhờ đó sẽ biết cách sử dụng khẩu vị, màu sắc, các cơ quan và những thứ khác để giữ sự cân đối và khôi phục nó nếu nó bị tổn thương. Mỗi một trạng thái có thể hỗ trợ, nuôi dưỡng nhau, nhưng cũng có thể kiềm chế lẫn nhau. Như vậy vòng tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Còn đây là vòng tương khắc: Mộc khắc Thổ, Hỏa khắc Kim, Thổ khắc Thủy, Kim khắc Mộc, Thủy khắc Hỏa.

 

Làm thế nào để có thể ứng dụng ngũ hành vào y học hiện đại?

Hãy lấy ví dụ, bệnh gan và túi mật (trạng thái Mộc). Bệnh thường nặng hơn vào mùa xuân, khi gió thổi mạnh. Bệnh nhân thường xúc động, la hét, thậm chí tức giận. Họ thường đau ở cơ, co giật, làm động tác thừa, bị run, nháy mắt. Da xanh, cảm thấy vị chua. Có thể đi theo hướng ngược lại: nếu bạn thường xuyên không hài lòng điều gì đó, một chuyện vặt vãnh cũng khiến bạn cáu giận, hay thực hiện những động tác thừa, bạn hãy cẩn thận. Ngay cả khi lúc này bạn không lo lắng gì về tuyến mật hay gan, bạn nên tìm cách phòng bệnh xảy ra với các bộ phận này. Bảng “Qui loại ngũ hành” có thể sử dụng trong mọi trường hợp điều trị theo phương pháp y học cổ truyền phương đông: liệu pháp thảo dược, trong châm cứu và giác đốt, khí công, học cách ăn uống và sống đúng chuẩn mực. Nhưng chúng ta, trong khuôn khổ bài báo này, sẽ chỉ đề cập đến phương pháp y học cổ truyền phương đông. Thảo dược – một trong những liệu pháp cơ bản và có tín nhiệm cao được sử dụng từ lâu đời. Các bác sĩ đưa cây cỏ vào làm thuốc, điều khiển sự phối hợp thiên nhiên, nhờ đó chỉnh lại việc mất cân bằng, gây ra bởi sự thừa hoặc thiếu khí trong cơ thể. Cây cỏ được phân loại theo năng lượng của mỗi loại, theo vị, hướng giảm hay tăng, và mối liên hệ của chúng với từng khu cụ thể của hệ năng lượng. Bốn dạng năng lượng của thực vật: nóng và ấm (duơng), mát và lạnh (âm). Những biện pháp này đã được kiểm chứng theo thời gian. Những thứ giúp chữa chứng nóng, thừa dương được gọi là thứ làm mát – âm. Còn những thứ điều trị và làm giảm chứng lạnh, âm thịnh được gọi là thứ nóng – duơng.

Năm vị thuốc từ cây cỏ liên quan đến thuyết ngũ hành. Năm vị đó là cay, chua, đắng, ngọt, mặt. Kinh nghiệm từ nhiều thế kỷ đã chứng tỏ rằng, mỗi vị trong năm vị cơ cản trên chứng minh về sự tác động củ thể về tính dựợc, bệnh lý của biện pháp bất kỳ nào.

Để xác định phương pháp điều trị đối với bệnh nhân, năm vị cũng quan trọng không kém bốn dạng năng lượng. Ví dụ, ở bệnh nhân thiếu nước trong cơ thể, cần phải tránh dùng loại cỏ đắng, bởi vì những cỏ này có tác dụng làm khô và làm tăng sự mất nước của người bệnh. Cụ thể, người không đủ năng lượng cần tránh các loại cỏ có vị cay, nghĩa là những họ cỏ này làm phân tán năng lượng. Với điều này, cơ quan bị tổn thương không bao giờ tự chú ý đến nó, chỉ có sự liên kết với những cơ quan và bộ phận khác của cơ thể, nơi mà nó có thể tác động đến.

Hai tính chất khác của thảo dược là khả năng giảm và tăng, kích thích và kìm lại. Những loại cỏ kích thích có khả năng hạ và giải tỏa năng lượng (bổ dương), khi đó loại cỏ chế hãm làm tích tụ và tập trung năng lượng (bổ âm). Để xác định gốc cần phải sử dụng hệ ngũ hành, dựa vào màu sắc, mùi vị có trong thành phần của cỏ.

Như vậy, nếu cây cỏ có vị ngọt, màu vàng, đó là những thứ thích hợp với tuyết tụy, còn nếu có màu sẫm, vị mặn – thích hợp với thận. Mặc dù từng thành phần trong thang thuốc có tính tăng hay giảm nội khí, nhưng bằng cách hòa làm một hợp vào bên trong cơ thể, xác định ưu thế năng lượng có sẵn của thành phần cây cỏ. Từ việc xác định đúng sự phân loại những cây cỏ được dùng, bác sĩ cần phải chọn ra những thứ có gốc tự nhiên hợp với phần cơ thể, không chỉ tác động liên quan đến những bộ phận khác nhau có cùng tính tự nhiên của các cơ quan, mà còn liên quan đến các đường kinh của các cơ quan này. Bạn thấy đấy, ở đây hệ ngũ hành đã “làm việc” thành công.

 

Thay cho lời kết

Chúng ta đã trải qua một chặng đường dài trong nỗ lực cố gắng tìm hiểu bản chất của hệ triết học cổ đại, có tên là y học cổ truyền phương đông. Hơn 200 năm trước,Lão Tử đã nói “Con đường ngàn dặm vẫn phải bắt đầu từ bước đầu tiên”. Các bạn hãy hỏi - “Tại sao chúng ta lại phải đi đâu đó?”. Để có thể nhận những kiến thức, học cáchh cảnh báo và chiến thắng bệnh tật, kiệt sức, sự già cỗi, bạn hãy thử ngay bây giờ đảm bảo cho bản thân một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa cho tương lai.

 

Bảng “Qui loại ngũ hành”

 

Mộc

Hỏa

Thổ

Kim

Thủy

Các bộ phận tính âm

gan

tim

tỳ

phổi

thận

Các bộ phận tính dương

tuyến mật

ruột non

dạ dày

ruột già

bàng quang

Giác quan

mắt

lưỡi

môi

mũi

tai

Cảm giác

thị giác

vị giác

xúc giác

khứu giác

thính giác

gân

mạch

thịt

da, lông

xương

Sự bài tiết

nước mắt

mồ hôi

nước bọt

phân

nước tiểu

Vị

chua

đắng

ngọt

cay

mặn

Cảm xúc

giận dữ

hài lòng

lo lắng

buồn rầu

sợ hãi

Thời gian trong ngày

sáng

trưa

chiều

tối

đêm

Vòng đời

sinh

trưởng

hóa

thu

tàng

Phương hướng

đông

nam

trung tâm

tây

bắc

Thời tiết

gió

nóng

ẩm

khô

lạnh

Thời gian trong năm

xuân

hạ

chuyển mùa

thu

đông

Màu sắc

xanh

đỏ

vàng

trắng

đen

Thức ăn động vật

thịt gà

thịt cừu

thịt bò

thịt ngựa

thịt lợn

Thức ăn thực vật

bột mì

gạo

ngô

kiều mạch

đậu